Đối
với những xe còn sử dụng chế hòa khí, bộ phận này hoạt động ổn định ở
áp suất 0,34 đến 0,48 atm và áp suất này do bơm nhiêu liệu cơ học cung
cấp. Bơm nhiên liệu cơ học thường nằm bên cạnh động cơ và hoạt động nhờ
trục cam thông qua đĩa lệch tâm. Nó có tác dụng đưa nhiên liệu từ bình
chứa tới chế hòa khí.
 |
| Xe gặp vấn đề, nỗi bức xúc của chủ nhân. (CT) |
Với công nghệ
phun xăng mới, áp suất nhiên liệu có giá trị cao hơn và sinh ra từ bơm
điện. Bơm nhiên liệu chạy điện sử dụng động cơ điện hoặc cuộn cảm ứng.
Nó thường được gắn ngay trong bình chứa và điều khiển bằng máy tính. Khi
tắt động cơ hoặc áp suất dầu giảm bơm nhiên liệu sẽ tắt theo. Trong hệ thống
phun nhiên liệu đơn điểm, một hoặc hai đầu phun nhiên liệu bên trong
bướm ga động ổn định ở áp suất từ 0,62 atm đến 2,40 atm tùy thuộc nhà
sản xuất.
Hiện nay, hầu hết các xe đời mới sử dụng công nghệ
phun xăng đa điểm (multi-port injection) tương ứng mỗi đầu phun cho một
xi-lanh. Với công nghệ này, nhiên liệu được cấp đồng đều và chính xác
tới từng buồng đốt. Áp suất nhiên liệu trong hệ thống phun đa điểm nằm
trong khoảng 2,10 atm tới 4,83 atm. Áp suất cao này sẽ đẩy nhiên liệu
qua đầu phun thành các bụi mỏng, khiến chúng hóa hơi nhanh hơn. Ở động
cơ xăng, nhiên liệu phải được hóa hơi trước khi bu-gi đánh lửa. Vì vậy,
bằng cách sử dụng áp cao, hầu hết xăng có thể bay hơi khi vừa đi vào
buồng đốt nên sinh ra nhiều công và hiệu suất cao hơn.
Khi áp suất nhiên liệu thấp, đầu phun không thể tạo
tia sương đồng đều mà nhiên liệu biến thành dòng gồm nhiều giọt nhỏ. Bên
cạnh đó, đầu phun nhiên liệu bẩn cũng có hậu quả tương tự. Những giọt
xăng nhỏ có tốc độ hóa hơi chậm, thậm chí không cháy hết và theo đường
ống xả ra ngoài. Trên các dòng xe có trang bị bộ trung hòa xúc tác,
chúng sẽ làm quá nhiệt bộ phận này và giảm tuổi thọ. Đa số xe ở Việt Nam
không có bộ trung hòa xúc tác nên xăng chưa cháy hoàn toàn bị thải ra
ngoài, gây ô nhiễm và ảnh hưởng tới sức khỏe do chứa nhiều hóa chất
trung gian, có hoạt tính mạnh.
 |
| Thay bơm nhiên liệu của xe BMW. (Pelicanparts) |
Khi động cơ khởi động một thời gian, bề mặt kim loại
sẽ nóng lên, đủ để hóa hơi nhiên liệu và máy có thể hoạt động rất bình
thường. Tuy nhiên, nếu áp suất quá thấp hoặc đầu kim phun quá bẩn, nó
ảnh hưởng rất lớn tới mức tiêu hao nhiên liệu cũng như làm xe yếu đi
trông thấy.
Đa số các xe đời mới có thể kiểm tra áp suất bơm nhiên
liệu một cách dễ dàng. Nối máy đo áp suất vào đường thử và bật công tắc
áp kế. Bạn có 2 cách để tiến hành: Bật công tắc kế khi vừa khởi động
máy hoặc kiểm tra khi xe đang hoạt động.
Rất nhiều người chỉ kiểm tra áp suất nhiên liệu khi
động cơ đang hoạt động. Trong trường hợp này, áp suất nhiên liệu vẫn có
thể nằm trong vùng cho phép do bơm nhiên liệu được làm nóng hoặc do điện
áp cao nên bơm sinh đủ áp suất. Để đánh giá chính xác hơn, nên kiểm tra
áp suất nhiên liệu khi lúc khởi động máy và trong lúc đang hoạt động.
Ví dụ, đối với hệ thống bình thường, nếu áp suất nhiên liệu thấp nhất
trong chỉ tiêu kỹ thuật là 4,48 atm, nhưng khi khởi động xe, chỉ số áp
kế là 4,34 atm thì xe đã rất khó khởi động do không đủ áp lực.
Bên cạnh bơm, bạn cũng nên kiểm tra đường ống nhiên
liệu. Tấm lọc nhiều cặn hay đường dẫn rỉ cũng gây ra hiện tượng trên.
Tuy nhiên, bạn nên hết sức cẩn thận khi kiểm tra bởi có thể gây hỏa
hoạn. Tiếp theo, bạn kiểm tra điện áp tại máy bơm nhiên liệu. Nếu giá
trị điện áp bình thường, bạn nên thay bơm nhiên liệu mới. Đối với xe cũ,
việc thay thế bơm hết sức đơn giản nhưng đối với xe phun nhiên liệu
điện tử, bơm nhiên liệu nằm trong bình chứa nên không dễ thay trừ khi có
thiết bị chuyên dụng. Vì vậy, tốt hơn cả là bạn đưa xe tới garage để
sửa chữa.
Động
cơ nổ khi các điều kiện đồng thời thỏa mãn như tốc độ quay trục khuỷu
đủ lớn, tỷ số nén tốt, nhiên liệu phù hợp, bu-gi đánh lửa đủ mạnh và
đúng thời điểm.
Trục khuỷu không quay do ắc-quy quá yếu
Nếu trục khuỷu không quay hãy kiểm tra
ắc-quy đầu tiên. Máy khởi động sẽ không thể làm việc khi điện áp ác quy
dưới 10 V. Ắc-quy yếu đôi khi không phải do chính bản thân nó. Năng
lượng dự trữ tụt giảm sau mỗi lần bạn cố gắng khởi động. Dù nguyên nhân
là gì bạn vẫn nên kiểm tra và nạp lại.
Trong trường hợp điện áp quá thấp, hãy sử
dụng một bình điện khác để khởi động. Nếu động cơ chạy bình thường, bạn
có thể giả định rằng lỗi khởi động là do ắc-quy hoặc hệ thống nạp. Nếu kiểm tra cho thấy bình điện vẫn còn tốt hãy tiếp tục kiểm tra hệ thống nạp.

Điện áp nạp cho ác quy khoảng 13,9 - 14,4 V trong điều kiện bình thường
Hệ thống nạp bổ sung điện cho ắc-quy bất
cứ khi nào điệp áp máy phát khoảng 14V ở chế độ không tải - các thiết bị
phụ tải tắt. Động cơ khởi động thành công, điên áp máy phát nhanh chóng
tăng cao hơn 2 V so với điện áp bình điện.
Quá trình nạp bắt đầu diễn ra, dấu hiệu
mà bạn dễ nhận thấy là đèn báo nạp tắt. Điện áp nạp thay đổi theo trạng
thái nạp của ắc-quy, phụ tải và nhiệt độ. Nhiệt độ thấp điện áp nạp cao
và ngược lại. Ở 26 độ C, điên áp sẽ là 13,9 - 14,4 V, nhưng sẽ tăng lên
14,9 - 15,8 V khi nhiệt độ âm. Nếu hệ thống nạp không có điện áp ra, hãy
kiểm tra bộ điều chỉnh điện và máy phát.
Trục khuỷu không quay hoặc quay dù bình điện đầy
Sử dụng bình đầy điện để khởi động lại. Nếu trục khủy quay yếu hoặc không quay hãy tập trung vào dòng điện khởi động.
Bật đèn pha. Nếu đèn tắt khi đang khởi
động chứng tỏ các kết nối với ắc-quy đã hút hết dòng điện. Hãy kiểm tra
và làm sạch tất cả các dây cáp nối.
Điện trở cao trong mạch khởi động làm sụt
giảm điện áp đặt lên máy đề. Trên xe con, điện áp tụt giảm sẽ không quá
0,4 V cho toàn bộ mạch khởi động. Dây cáp rẻ tiền, lõi nhỏ, vỏ cách
điện mỏng hoặc kết nối quá bẩn có thể là nguyên nhân phát sinh vấn đề
này.
Nếu đèn pha sáng rõ liên tục, trục khuỷu
vẫn không quay có khả năng điện áp đã không đặt vào máy khởi động mà
nguyên nhân do công tắc an toàn khởi động, khóa điện kém, rơ-le khởi
động. Cầu chì cũng nên kiểm tra vì chúng có thể bị cháy khi bạn đẩy hoặc
kích nổ.

Cụm máy khởi động và rơ-le.
Nối tắt máy khởi động, không qua rơ-le. Nếu củ đề quay tốt nguyên nhân ở đây là do rơ-le hỏng.
Hầu hết động cơ cần phải đạt tốc độ 200 -
300 vòng/phút để có thể khởi động. Bởi vậy, nếu máy khởi động yếu không
tạo ra sức nén đủ lớn, động cơ sẽ không nổ.
Củ đề yếu đôi khi vẫn có thể làm quay
động cơ tới vận tốc cần thiết nhưng sẽ ngốn hết điện của bình điện, và
không còn đủ năng lượng cung cấp cho hệ thống phun nhiên liệu và hệ
thống đánh lửa.
Máy khởi động sẽ tiêu thụ dòng điện 60 -
150 A khi chạy không không tải, 200 A hoặc nhiều hơn khi kéo động cơ
quay. Dòng không tải phụ thuộc vào loại động cơ, dòng có tải phụ thuộc
vào sự dịch chuyển và sự nén của động cơ. Ví dụ, củ đề của động cơ
Toyota 4 xi-lanh sử dụng dòng 130 - 150 A khi không tải, nhưng sẽ là 175
A nếu là động cơ 6 xi-lanh.
Dòng điện cao hơn mức bình thường và tốc
độ quay tự do hoặc tốc độ quay trục khuỷu thấp là dấu hiệu đặc trưng cho
biết phần ứng điện bị ngắn, phần ứng hoặc cuộn kích từ chạm mát, ma sát
quá lớn bên trong máy khởi động (Do khô, mòn hoặc dính ổ bi, chổi
than). Đôi khi nam châm vĩnh cửu trong máy phát bị nứt hoặc tách khỏi
vỏ. Một nguyên nhân khác, máy khởi động tốt nhưng không thể làm quay
động cơ vì động cơ đã bị kẹt chặt. Trước khi khởi động hãy thử quay trục
khuỷu.
Máy khởi động không quay và dòng điện kéo
bằng không, mạch phần ứng hở. Chổi than hoặc cuộn dây đã bị lỗi. Nếu
tốc độ không tải thấp, dòng điện kéo nhỏ là dấu hiện cho thấy điện trở
trong lớn (kết nối xấu, chổi than kém chất lượng, cuộn kích từ hở mạch
hoặc phần ứng bị vênh).
Nếu củ đề quay nhưng không ăn khớp với
bánh đà, lý do có thể là nam châm điện trong rơ-le làm việc yếu, truyền
động của máy khởi động hỏng hoặc răng trên bánh đà hỏng.
Phần quan trọng của hệ thống khởi động là bugi và xăng gió. Nếu các yếu tố này không đảm bảo, xe sẽ không thể nổ máy.
Hư hỏng liên quan đến hệ thống đánh lửa
Động cơ quay bình thường nhưng không khởi động, vấn đề có thể thuộc về hệ thống
đánh lửa, nhiên liệu hoặc độ nén. Bạn có thể kiểm tra dễ dàng bằng
bu-gi nối ngoài hoặc chỉ bằng dây cao áp ở gần điểm mối mát tốt.
Nếu chỉ có một vài bugi đánh lửa, vấn đề
do bộ chia điện hoặc cảm biến trục khủy kém. Trong trường hợp tất cả các
bu-gi đều không đánh lửa, có thể bô-bin đánh lửa hỏng. Hãy kiểm tra
điện trở cuộn dây sơ cấp và thứ cấp để biết liệu đây có phải là nguyên
nhân.

Vỏ (Housing), Mô-đun
điều khiển đánh lửa (Ignition Control Module), Bu-gi (Spark Plugs), Bộ
chia điện (Distributor), Mô-đun điều khiển động cơ (Module Control
Engine)
Đôi khi, nguyên nhân chẳng ở đâu xa, chỉ
do một dây dẫn nào đó đã bị đứt, liên kết lỏng làm điện áp không đến
được bu-gi. Sau khi thử khởi động một vài lần, tháo và kiểm tra nhiệt độ
bu-gi. Nếu thấy chúng nóng đều, nhưng máy không khởi động được, đây là
lúc bạn lên tìm nguyên nhân ở hệ thống cung cấp nhiên liệu. Hư hỏng phổ
biến nhất là bơm làm việc kém hiệu quả.
Những vấn đề của hệ thống cung cấp nhiên liệu
Trên các động cơ sử dụng chế hòa khí,
xăng không vào họng hút do bơm cơ khí kém, van kim bị kẹt, lọc xăng hoặc
đường nhiên liệu bị tắc.
Ở những dòng xe mới hơn, sử dụng hệ thống
phun xăng điện tử. Hãy dùng áp kế đo áp suất nhiên liệu. Nếu không có
áp suất khi khóa điện ở chế độ ON, cần kiểm tra bơm nhiên liệu, rơ-le
bơm, cầu chì và dây dẫn. Trên xe Ford đừng quên kiểm tra công tắc an
toàn nằm ẩn dưới cốp xe hoặc bảng điều khiển. Công tắc này sẽ tắt bơm
khi xảy ra tai nan. Bởi thế, bạn cần kiểm tra nó và Reset lại nếu cần.
Thiếu nhiên liệu còn do đường ống bị tắc hoặc thiết bị chống sốc trong
bình chứa. Bạn cũng đừng quên kiểm tra đồng hồ đo mức nhiên liệu. Một số
trường hợp xe không khởi động được đơn giản vì hết nhiên liệu.
Chất lượng xăng kém, nhiễm nước hay alcohol quá nhiều cũng khiến máy không khởi động được.
Dù có áp suất trong hệ thống cung cấp
nhiên liệu nhưng chưa chắc xăng đã được phun vào buồng đốt. Sử dụng ống
nghe đặt gần kim phun. Kim phun là việc tốt sẽ phát ra tiếng động trong
quá trình đóng mở. Bằng không hãy kiểm tra điện áp đặt vào kim phun. ECM
bị sai không thể điều khiển vòi phun, hoặc rơ-le nguồn của EFI đã ngừng
làm việc.
Một yếu tố quan trọng khác quyết định đến
liệu động cơ có thể khởi động được hay không chính là tỷ lệ hòa trộn
xăng/không khí. Khe hở lớn trên đường ống nạp khiến tỷ lệ xăng/không khí
giảm quá giới hạn có thể cháy, kết cục là máy không thể khởi động được.
Hãy kiểm tra tất cả các khe hở tại khu vực áp suất chân không sau bướm
ga và làm kín chúng.
Tỷ số nén của hỗn hợp thấp
Nhiên liệu cung cấp đủ, bu-gi đánh lửa
tốt, không có không có các khe hở nghiêm trọng trên đường ống nạp, trục
khuỷu quay bình thường, động cơ vẫn không khởi động được. Vấn đề còn lại
liên quan tới tỷ số nén.

Động cơ sử dụng đai cam bằng cao su
Với động cơ sử dụng đai cam bằng cao su.
Các hãng yêu cầu thay đai cam OHC sau khi xe chạy 100.000 km trong hoạt
động bảo dưỡng dự phòng. Nhiều đai cam không bao giờ được thay cho đến
khi bị đứt, các van xả và nạp không đóng mở đúng thời điểm, tỷ số nén
không đảm bảo cho quá trình cháy diễn ra. Động cơ không khởi động.
Cam đặt trên đỉnh cũng có thể bị kẹt chặt
và đứt nếu nắp máy bị cong vênh do nóng dữ dội, hoặc bi cam thiếu dầu
bôi trơn. Cam bị kẹt có thể xuất hiện trong khi khởi động lạnh ở nhiệt
độ âm. Dầu trong các-te quá mỏng và thấp để ảnh hưởng tới trục cam.
Với loại xích cam có thể phát sinh hiện
tượng đứt hoặc trượt. Trong trường hợp này hãy tháo nắp bảo vệ và quan
sát chúng hoạt động.
Kiểm tra dầu máy, nếu phát hiện chúng lẫn nước, rất có thể gioăng quy-láp đã bị thổi bay, động cơ không thể khởi động.